18.05.2020

Không có lợi ích đến ngay - Cuộc khủng hoảng Covid-19 và biến đổi khí hậu

Các biện pháp ngăn chặn đại dịch COVID-19 đã dẫn đến giảm phát thải CO2. Nhưng nếu không có những thay đổi về cơ cấu trúc thì điều này sẽ không mang lại lợi ích cho khí hậu về lâu về dài.

Ảnh: istock / cozyta

Sự bùng phát của COVID-19 đã khiến cuộc sống và toàn bộ các nền kinh tế ở châu Á bị đình trệ và cùng với đó làm cho lượng khí thải nhà kính toàn cầu (GHG) giảm xuống. Ví dụ như Trung Quốc đã chứng kiến sự sụt giảm tạm thời mức tiêu thụ năng lượng và khí thải xuống 25%. Do virus đang lây lan rộng, các chính phủ buộc phải áp dụng những biện pháp quyết liệt để ngăn chặn virus, chúng ta đã thấy mức độ ô nhiễm giảm và chất lượng không khí được cải thiện trên toàn thế giới. Tuy nhiên, đối với hầu hết những người quan tâm đến khí hậu, rõ ràng cuộc khủng hoảng corona không hoàn toàn mang lại lợi ích cho tình trạng khẩn cấp của khí hậu hiện nay.

Trước tiên, thật là lố bịch nếu ăn mừng lợi ích về môi trường với cái giá của việc đại dịch toàn cầu đang cướp đi sinh mạng của hàng ngàn người và tấn công các nhóm dễ bị tổn thương nhất trong xã hội và nhất là gây khó khăn nghiêm trọng cho sinh kế của họ (xem các bài viết trên #FESAsiaCoronaBriefs về ngành du lịch ở Nepal hay công nghiệp dệt may của Bangladesh).

Thứ hai, nhìn vào kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, sự thuyên giảm phát thải khí nhà kính có lẽ sẽ không lâu dài mà sẽ qua đi khi lượng phát thải tăng trở lại. Trong cuộc khủng hoảng tài chính, phát thải toàn cầu giảm được 2% thì nó lại đã tăng 5% sau cuộc khủng hoảng. Fatih Birol, Giám đốc điều hành của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA)cho biết “không có gì đáng để ăn mừng khi khí thải giảm do khủng hoảng kinh tế gây ra bởi vì nếu không có các chính sách và biện pháp cơ cấu đúng đắn, sự sụt giảm này sẽ không bền vững.” Sau cuộc khủng hoảng tài chính, cơ hội để đưa nền kinh tế vào con đường phát triển bền vững hơn, thân thiện với khí hậu hơn đã bị bỏ lỡ. Để tránh sai lầm đó xảy ra một lần nữa, nhiều nhà nghiên cứu và nhà hoạt động khí hậu đã đưa ra những gợi ý về cách các gói kích thích kinh tế nên gắn liền với việc thúc đẩy tăng trưởng xanh và đầu tư vào các công nghệ cacbon thấp.

Tại Malaysia, Nithi Nesadurai, điều phối viên khu vực của Mạng lưới hành động khí hậu khu vực Đông Nam Á (CAN SEA) cho biết các tổ chức xã hội dân sự đã gửi thư cho Bộ trưởng Tài chính sau khi chính phủ công bố hai gói kích thích kinh tế và dự đoán là sẽ có gói thứ ba. Trong đó, họ yêu cầu các gói dịch chuyển nền kinh tế theo hướng sử dụng năng lượng hiệu quả hơn, tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên bền vững, tăng cường khả năng phục hồi kinh tế xã hội trước những cú sốc trong tương lai và có sự tiếp cận công bằng với nguồn lực tài chính và tài nguyên.

Thứ ba, một cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu có thể làm chậm quá trình chuyển đổi sinh thái xã hội. Đúng là cần giảm mạnh lượng khí thải toàn cầu nếu chúng ta muốn tránh việc thế giới nóng lên 3 hoặc 4 độ và vài tuần qua đã chỉ ra rằng việc giảm như vậy là hoàn toàn có thể. Nhưng một nền kinh tế giảm cacbon có nghĩa là tách sự thịnh vượng khỏi khí thải chứ không phải là giảm sút hoạt động kinh tế ở nơi mà sự tồn tại đơn thuần của người dân bị đe dọa. Đối với các chuyển đổi như vậy, cần có nền kinh tế lành mạnh. Điều này cũng đòi hỏi các chính phủ đóng vai trò tích cực trong việc chỉ đạo việc chuyển đổi để đảm bảo quá trình chuyển đổi này diễn ra công bằng và không ai bị bỏ lại phía sau. Cuộc khủng hoảng ngày càng sâu sắc có thể cản trở các dự án cơ sở hạ tầng và các khoản đầu tư cần thiết cho quá trình chuyển dịch năng lượng. Các chuỗi cung ứng toàn cầu cho các thiết bị năng lượng tái tạo cũng bị ảnh hưởng. Trong khi các nhà máy ở Trung Quốc, nơi sản xuất 70% nguồn cung cấp tấm pin mặt trời của toàn cầu, có thể khởi động lại sản xuất, thì bây giờ Ấn Độ lại đang bị phong tỏa, gây ra sự chậm trễ trong việc cung cấp tua-bin gió và tấm quang điện. Với việc không chắc là cuộc khủng hoảng này sẽ kéo dài bao lâu, việc hoàn thành các dự án năng lượng tái tạo có thể bị ảnh hưởng không chỉ ở châu Á mà trên toàn thế giới.

Và cuối cùng, cuộc khủng hoảng y tế này có thể là một hạn chế đối với ngoại giao khí hậu quốc tế. Năm 2020 được cho là đánh dấu sự khởi đầu của một thập kỷ tập trung vào khí hậu, trong đó các quốc gia sẽ đẩy mạnh tham vọng và hạn chế khí thải kịp thời để đáp ứng mục tiêu giảm nhiệt độ toàn cầu ở mức 1,5 độ. Với thông báo gần đây rằng Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 26 của Liên Hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu (COP26) sẽ bị hoãn lại, các mối lo ngại đang gia tăng rằng sẽ không còn động lực và cuộc khủng hoảng được sử dụng như một cái cớ để trì hoãn hành động vì khí hậu. Một ví dụ là ngành công nghiệp xe hơi châu Âu đã kêu gọi Liên minh châu Âu trì hoãn các mục tiêu khí hậu và chính phủ Trung Quốc cũng đang cân nhắc việc hoãn hạn chế hạt phát thải mới trong sáu tháng. Sẽ không có gì đáng ngạc nhiên khi những người chống lại các hành động khí hậu tham vọng ngay từ trước cuộc khủng hoảng này bây giờ cố gắng sử dụng nó cho lợi ích riêng của họ.

Trong khi còn nhiều điều không chắc chắn trong những ngày này, điều chúng ta biết chắc chắn là cuộc khủng hoảng khí hậu vẫn sẽ còn đó sau khi đại dịch kết thúc. Do đó, chúng ta cần xem xét cẩn thận những điều này một cách tổng thể và không thể đánh đổi một cuộc khủng hoảng cốt yếu này lấy một cuộc khủng hoảng cốt yếu khác. 

Friedrich-Ebert-Stiftung
Văn phòng Việt Nam 

7 Bà Huyện Thanh Quan
Ba Đình 
Hà Nội  - Việt Nam
Hòm thư 44

+84   24 38455108
+84   24 38452631

mail(at)fes-vietnam.org

về đầu trang